Quy định về trách nhiệm của Ban Cơ yếu Chính phủ trong bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống máy tính của Đảng
Ban Bí thư ban hành Quy chế số 03-QC/TW ngày 19/10/2026 về tổ chức, quản lý, sử dụng và bảo vệ hệ thống mạng máy tính của Đảng. Quy chế xác định cụ thể các yêu cầu bảo mật trong tổ chức kết nối, xử lý, lưu trữ, trao đổi dữ liệu; đồng thời quy định trách nhiệm của Ban Cơ yếu Chính phủ trong triển khai sản phẩm mật mã, dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng công vụ và bảo đảm an toàn các hệ thống thuộc phạm vi chuyên môn. Đây là cơ sở quan trọng để gắn công tác cơ yếu với yêu cầu chuyển đổi số, bảo vệ thông tin phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng.
Quy chế số 03-QC/TW gồm 5 chương, 16 điều, áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức đảng từ Trung ương đến cấp xã, phường, đặc khu và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc kết nối, sử dụng, cung cấp sản phẩm, dịch vụ, quản lý, giám sát, vận hành, khai thác hệ thống mạng máy tính của Đảng. Theo Điều 16, Quy chế có hiệu lực kể từ ngày ký, thay thế Quy chế số 07-QC/TW ngày 31/10/2025 của Ban Bí thư.
Với phạm vi điều chỉnh xuyên suốt từ tổ chức hạ tầng đến sử dụng và bảo vệ hệ thống, Quy chế đặt ra yêu cầu thống nhất giữa kết nối thông suốt và bảo đảm an ninh, bảo mật. Đối với công tác cơ yếu, các nhiệm vụ được xác định không chỉ ở khâu cung cấp sản phẩm mà bao gồm quản lý, triển khai, hướng dẫn sử dụng, kiểm tra chuyên môn, giám sát và xử lý sự cố liên quan đến an toàn mật mã.
Trong cấu trúc hệ thống mạng máy tính của Đảng, Mạng thông tin diện rộng của Đảng được thiết lập trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin và viễn thông quốc gia, sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước. Mạng tích hợp các giải pháp bảo mật của Ban Cơ yếu Chính phủ để xác thực, bảo mật thông tin, dữ liệu. Cách tổ chức này cho thấy bảo mật cơ yếu là một yêu cầu gắn với hoạt động của hệ thống, cần được tính đến ngay trong quá trình thiết kế, kết nối và triển khai các ứng dụng.
Một trong những nội dung cần được quán triệt đầy đủ là điều kiện xử lý thông tin bí mật nhà nước trên môi trường mạng. Khoản 2 Điều 10 quy định thông tin, dữ liệu có độ mật “Mật”, “Tối mật” chỉ được soạn thảo, trao đổi, xử lý và lưu trữ trên Mạng thông tin diện rộng của Đảng khi có giải pháp bảo mật của Ban Cơ yếu Chính phủ theo Luật Cơ yếu; đồng thời tuân thủ pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh mạng và các quy định liên quan.
Yêu cầu này tiếp tục được cụ thể hóa tại Điều 11 và Điều 12. Theo đó, dữ liệu chứa thông tin bí mật nhà nước phải được mã hóa bằng sản phẩm mật mã chuyên dụng của ngành Cơ yếu. Thông tin bí mật nhà nước độ “Mật”, “Tối mật” khi truyền đưa, lưu giữ trên Mạng thông tin diện rộng của Đảng phải được bảo vệ bằng mật mã cơ yếu; thông tin bí mật nhà nước độ “Tuyệt mật” thực hiện theo quy định về mạng liên lạc cơ yếu và các quy định có liên quan.
Như vậy, việc đưa thông tin lên hệ thống phải gắn với xác định đúng độ mật, phạm vi xử lý và điều kiện bảo vệ tương ứng. Không thể mặc nhiên coi một hệ thống đã kết nối vào mạng của Đảng là đủ điều kiện xử lý mọi loại thông tin. Cơ quan quản lý, đơn vị vận hành và người sử dụng phải thực hiện đúng yêu cầu đối với từng loại dữ liệu, từng hệ thống và thẩm quyền được giao. Đây cũng là căn cứ để lực lượng cơ yếu phối hợp tham mưu lựa chọn, triển khai giải pháp bảo mật phù hợp với yêu cầu nghiệp vụ.
Các quy định về kết nối mạng thể hiện rõ nguyên tắc kiểm soát chặt chẽ đường truyền và việc trao đổi dữ liệu. Điều 4 không cho phép kết nối trực tiếp Mạng thông tin diện rộng của Đảng với Mạng Internet phục vụ các cơ quan, tổ chức đảng. Việc kết nối giữa hai mạng chỉ được thực hiện khi tích hợp giải pháp bảo mật cơ yếu và bảo đảm an ninh mạng được cơ quan chức năng có thẩm quyền xác nhận. Theo điểm c khoản 1 Điều 5, dữ liệu liên thông giữa hai mạng là dữ liệu không thuộc phạm vi bảo vệ bí mật nhà nước, được truyền, nhận thông qua giải pháp chuyển tiếp an toàn, có kiểm soát, giám sát và được thẩm định, xác nhận theo quy định.
Quy chế đồng thời quy định thiết bị đã kết nối với Mạng thông tin diện rộng của Đảng không được kết nối Internet, kể cả luân phiên và ngược lại; không sử dụng giải pháp truyền dẫn không dây để kết nối với Mạng thông tin diện rộng của Đảng khi chưa có giải pháp bảo mật của Ban Cơ yếu Chính phủ và bảo đảm an ninh mạng theo quy định. Những yêu cầu này cần được cụ thể hóa trong quy trình sử dụng thiết bị tại từng cơ quan, đơn vị, tránh tình trạng vì thuận tiện trong xử lý công việc mà tự ý thay đổi phương thức kết nối.
Đối với Nền tảng kết nối, liên thông mạng mật giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, Điều 7 xác định mã hóa đường truyền bằng giải pháp mật mã cơ yếu là một trong những điều kiện phải đáp ứng trước khi kết nối hệ thống thông tin vào nền tảng. Các điều kiện về cấp độ an ninh mạng hệ thống thông tin, bảo mật, bảo vệ dữ liệu, xác thực và phân quyền truy cập phải được bảo đảm đồng bộ. Trách nhiệm của cơ quan gửi, cơ quan đầu mối kết nối, cơ quan quản lý, vận hành nền tảng và cơ quan nhận được xác định theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền.
Đáng chú ý, yêu cầu bảo mật còn được đặt ra đối với các hoạt động phục vụ trực tiếp công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Hệ thống hội nghị truyền hình phải tích hợp giải pháp bảo mật của Ban Cơ yếu Chính phủ đối với phiên họp có nội dung mật. Hoạt động truy cập, quản trị từ xa đối với hệ thống thông tin có xử lý thông tin bí mật nhà nước hoặc hệ thống thông tin theo quy định của pháp luật phải sử dụng kênh kết nối, sản phẩm hoặc giải pháp mật mã cơ yếu do tổ chức cơ yếu có thẩm quyền cung cấp, triển khai, quản lý. Vì vậy, phương án bảo mật phải được chuẩn bị cùng với phương án tổ chức công việc, bảo đảm khi hệ thống được đưa vào sử dụng đã đáp ứng đầy đủ điều kiện cần thiết.
Trách nhiệm của Ban Cơ yếu Chính phủ được quy định tập trung tại khoản 8 Điều 15 với ba nhóm nhiệm vụ:
Trước hết, Ban Cơ yếu Chính phủ chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng cung cấp, quản lý và triển khai các sản phẩm mật mã cơ yếu, dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng công vụ để bảo vệ thông tin bí mật nhà nước và thông tin phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng. Nhiệm vụ này gắn việc bảo đảm sản phẩm, dịch vụ với nhu cầu sử dụng thực tế của các cơ quan đảng, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chuyên môn và đơn vị tiếp nhận, khai thác.
Cùng với đó, Ban Cơ yếu Chính phủ chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng triển khai giám sát an ninh, an toàn sản phẩm mật mã cơ yếu, các hệ thống thông tin cơ yếu và dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng công vụ; chủ trì xác minh, đánh giá, xử lý sự cố liên quan đến an toàn mật mã cơ yếu, sản phẩm mật mã cơ yếu, khóa mật mã, hệ thống thông tin cơ yếu và dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng công vụ. Trong công tác bảo đảm an ninh mạng tổng thể, Ban Cơ yếu Chính phủ phối hợp với Bộ Công an và Văn phòng Trung ương Đảng.
Nhóm nhiệm vụ thứ ba là bố trí nguồn lực, phối hợp kiểm định, đánh giá an toàn các hệ thống, nền tảng, dữ liệu dùng chung có sử dụng giải pháp bảo mật của Ban Cơ yếu Chính phủ trước khi đưa vào vận hành, sử dụng. Quy định này đặt trách nhiệm kiểm tra, đánh giá ở giai đoạn trước khai thác, góp phần phòng ngừa nguy cơ từ quá trình triển khai và tích hợp hệ thống.
Từ các yêu cầu của Quy chế, công tác cơ yếu cần được triển khai gắn với toàn bộ quá trình quản lý, sử dụng sản phẩm bảo mật. Khoản 4 Điều 9 đã xác định nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn đối với việc triển khai, quản lý, sử dụng, thay đổi, thu hồi và bảo vệ sản phẩm bảo mật của Ban Cơ yếu Chính phủ trên hệ thống mạng máy tính của Đảng. Các sản phẩm phải đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật phục vụ chuyển đổi số trong các cơ quan đảng.
Để thực hiện hiệu quả, cần chú trọng rà soát nhu cầu bảo mật theo từng hệ thống, từng nhóm dữ liệu và quy trình nghiệp vụ; đối chiếu điều kiện kỹ thuật trước khi mở rộng kết nối hoặc đưa ứng dụng vào khai thác. Việc quản lý sản phẩm, thiết bị lưu khóa bí mật và quyền sử dụng phải gắn với trách nhiệm cụ thể của đơn vị, cá nhân được giao. Khi thay đổi nhân sự, nhiệm vụ hoặc phương án kỹ thuật, cần kịp thời rà soát các điều kiện liên quan, tránh duy trì quyền truy cập và phương tiện bảo mật không còn phù hợp.
Công tác kiểm tra cũng cần hướng vào việc chấp hành trong sử dụng thực tế. Một sản phẩm được trang bị đúng yêu cầu chỉ phát huy hiệu quả khi được vận hành đúng quy trình. Quy chế yêu cầu người dùng bảo vệ bí mật tài khoản, mật khẩu, thiết bị lưu trữ an toàn, thiết bị lưu khóa bí mật; cấm truy cập, cung cấp, sao chép, lưu giữ, trao đổi dữ liệu không thuộc thẩm quyền. Bởi vậy, hướng dẫn nghiệp vụ cơ yếu cần gắn với bồi dưỡng kỹ năng sử dụng hệ thống, giúp cán bộ hiểu rõ trách nhiệm trong từng thao tác xử lý thông tin.
Bên cạnh phòng ngừa, khả năng phối hợp xử lý sự cố là yêu cầu thiết yếu. Điều 14 quy định chuẩn hóa, diễn tập quy trình ứng phó với sự tham gia của các đơn vị liên quan, trong đó có Ban Cơ yếu Chính phủ. Đối với sự cố thuộc phạm vi an toàn mật mã, việc thông báo đúng đầu mối và phối hợp xử lý theo thẩm quyền có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng bảo vệ thông tin, khôi phục hoạt động và ngăn ngừa tái diễn. Quá trình tổ chức thực hiện cần làm rõ đầu mối tiếp nhận, trách nhiệm xử lý và phương thức phối hợp ngay từ khi xây dựng phương án vận hành.
Quy chế số 03-QC/TW đặt ra yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa phát triển hạ tầng số, đổi mới phương thức làm việc và bảo vệ thông tin của Đảng. Thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao cho Ban Cơ yếu Chính phủ, cùng với nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý và người sử dụng, sẽ góp phần bảo đảm hệ thống mạng máy tính của Đảng vận hành liên tục, ổn định, tin cậy, an toàn. Giá trị của công tác cơ yếu trong quá trình này được thể hiện ở khả năng bảo vệ thông tin đúng yêu cầu, phục vụ kịp thời nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo và đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số của các cơ quan đảng.
Đọc toàn văn tại đây: QUY CHẾ 03.pdf