Quy định mới về cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược
Vừa qua, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược. Thông tư tạo lập cơ chế tài chính theo hướng linh hoạt, gắn nguồn lực với mục tiêu, sản phẩm đầu ra và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát toàn bộ chu trình quản lý tài chính
Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng, cấp kinh phí, thanh toán và quyết toán đối với các nội dung chi quản lý và chi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược quy định tại Điều 7 Nghị định số 260/2026/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Công nghệ cao (sau đây viết tắt là Nghị định số 260/2026/NĐ-CP).
Đối tượng áp dụng gồm cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược tại Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Như vậy, Thông tư đã xác lập cơ chế tài chính theo hướng huy động và kết hợp nhiều nguồn lực. Kinh phí thực hiện nhiệm vụ có thể được bảo đảm từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; kinh phí đối ứng của tổ chức chủ trì, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện nhiệm vụ; nguồn kinh phí từ hợp tác quốc tế và các nguồn tài chính hợp pháp khác.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% đối với những nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt
Thông tư quy định mức hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước theo tính chất, mục tiêu và mức độ rủi ro của từng nhiệm vụ.
Theo đó, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí thực hiện đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược do Nhà nước đặt hàng; nhiệm vụ nhằm nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền tảng hoặc công nghệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; cũng như các nhiệm vụ có mức độ rủi ro cao về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đối với nhiệm vụ nhằm phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 70% kinh phí thực hiện. Phần kinh phí còn lại được tổ chức chủ trì, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện nhiệm vụ bố trí từ nguồn kinh phí đối ứng theo quyết định phê duyệt của cơ quan quản lý nhiệm vụ.
Mức hỗ trợ ngân sách đối với nhóm nhiệm vụ phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược được xác định dựa trên nhiều tiêu chí, trong đó có mục tiêu làm chủ, phát triển công nghệ; giai đoạn phát triển và mức độ hoàn thiện của công nghệ, sản phẩm; mức độ rủi ro; khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách; khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa kết quả và mức độ đóng góp của nhiệm vụ đối với năng lực tự chủ công nghệ, quốc phòng, an ninh và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quy định này góp phần tạo cơ chế phân bổ nguồn lực có trọng tâm, ưu tiên những nhiệm vụ có tính chiến lược, có khả năng tạo ra năng lực công nghệ mới hoặc giải quyết những bài toán quan trọng của quốc gia.
Lập dự toán gắn với sản phẩm và kết quả cuối cùng
Một trong những điểm đáng chú ý của Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN là nguyên tắc lập dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ được thiết kế gắn chặt với mục tiêu, sản phẩm đầu ra và kết quả cuối cùng.
Dự toán phải bảo đảm tính đồng bộ với chuỗi phát triển sản phẩm công nghệ, từ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất nguyên mẫu, triển khai thử nghiệm đến chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm. Đồng thời, dự toán được lập theo từng gói công việc và tổng hợp theo từng mốc đánh giá.
Mỗi gói công việc phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi công việc, sản phẩm đầu ra, dự toán kinh phí, tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện và thời gian thực hiện. Cách tiếp cận này giúp việc bố trí và sử dụng kinh phí được gắn với tiến độ, nhiệm vụ cụ thể và kết quả cần đạt được, thay vì chỉ dựa trên các khoản chi đầu vào.
Đối với những nội dung chi chưa có định mức kinh tế - kỹ thuật hoặc chưa có định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, tổ chức chủ trì được lập dự toán trên cơ sở chi phí thực tế của công việc tương tự, giá niêm yết trên thị trường, báo giá của nhà cung cấp, kết quả thẩm định giá hoặc các căn cứ hợp pháp khác phù hợp với tính chất công việc.
Tăng tính chủ động trong sử dụng nguồn lực
Thông tư cũng trao quyền chủ động đáng kể cho tổ chức chủ trì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Đối với chi thù lao, việc lập dự toán được thực hiện theo vị trí công việc và sản phẩm đầu ra của từng gói công việc. Tổ chức chủ trì được chủ động xác định các vị trí công việc tham gia thực hiện nhiệm vụ phù hợp với mục tiêu, nội dung, yêu cầu chuyên môn và phương án tổ chức thực hiện.
Trong quá trình triển khai, tổ chức chủ trì được chủ động điều chỉnh kinh phí giữa các nội dung chi trong cùng gói công việc hoặc giữa các gói công việc thuộc cùng một mốc đánh giá; điều chỉnh tiến độ bố trí kinh phí đối ứng và sử dụng kinh phí dự phòng trong phạm vi dự toán đã được phê duyệt, với điều kiện không làm thay đổi tổng mức kinh phí ngân sách nhà nước và tỷ lệ kinh phí đối ứng đã được phê duyệt, đồng thời phải bảo đảm kết quả đầu ra, sản phẩm và chỉ tiêu đánh giá của mốc đánh giá theo hợp đồng.
Đáng chú ý, tổ chức chủ trì được tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về việc lựa chọn nhà thầu, nhà cung cấp khi mua sắm, thuê trang thiết bị, máy móc, hàng hóa, dịch vụ phục vụ trực tiếp việc thực hiện nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược. Việc lựa chọn phải bảo đảm phục vụ trực tiếp mục tiêu, sản phẩm và yêu cầu kỹ thuật của nhiệm vụ; tuân thủ pháp luật về đấu thầu và các quy định chuyên ngành; đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả và không có xung đột lợi ích.
Có cơ chế dự phòng và tạm ứng đối với nhiệm vụ cấp bách
Để đáp ứng đặc thù của hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược, Thông tư quy định cơ chế quản lý và sử dụng kinh phí dự phòng cho các thay đổi, phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo quy định.
Đồng thời, đối với các nội dung cấp bách cần triển khai ngay, tổ chức chủ trì có thể sử dụng nguồn tài chính hợp pháp của mình hoặc nguồn vốn hợp pháp khác để ứng trước kinh phí trước khi được cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước. Khoản kinh phí đã ứng trước được tổng hợp vào kinh phí thực hiện nhiệm vụ để thanh toán, quyết toán theo quy định.
Cơ chế này có ý nghĩa quan trọng đối với những nhiệm vụ công nghệ chiến lược có yêu cầu triển khai nhanh, trong đó tiến độ nghiên cứu, thử nghiệm và làm chủ công nghệ có thể bị ảnh hưởng nếu phải chờ hoàn tất toàn bộ quy trình cấp kinh phí.
Thanh toán, quyết toán gắn với kết quả đánh giá
Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN tiếp tục thể hiện rõ nguyên tắc gắn tài chính với kết quả thực hiện nhiệm vụ thông qua cơ chế thanh toán theo các mốc đánh giá.
Đối với nhiệm vụ thực hiện theo nhiều mốc đánh giá, kinh phí được thanh toán căn cứ kết quả đạt được tại từng mốc. Trường hợp mốc đánh giá đạt yêu cầu, việc thanh toán được thực hiện theo phương thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng hoặc khoán chi từng phần tùy nội dung được phê duyệt. Ngược lại, đối với mốc đánh giá chưa đạt yêu cầu, phần công việc chưa đạt sẽ chưa được thanh toán theo quy định.
Đối với cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, tổ chức chủ trì quyết toán kinh phí căn cứ vào kết quả đạt được tại các mốc đánh giá hoặc sản phẩm cuối cùng được Hội đồng đánh giá xác nhận. Đây là cơ chế góp phần chuyển trọng tâm quản lý từ kiểm soát chi phí đầu vào sang kiểm soát kết quả, sản phẩm và hiệu quả sử dụng ngân sách.
Cơ chế tài chính cho cụm nhiệm vụ, chuỗi nhiệm vụ
Thông tư cũng quy định riêng cơ chế quản lý tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược được tổ chức thực hiện theo hình thức cụm nhiệm vụ, chuỗi nhiệm vụ.
Theo đó, việc cấp, thanh toán và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước được thực hiện đối với tổ chức chủ trì cụm nhiệm vụ, chuỗi nhiệm vụ theo hợp đồng. Tổ chức chủ trì có trách nhiệm phân bổ, cấp và thanh toán kinh phí cho các tổ chức chủ trì nhiệm vụ thành phần; đồng thời tổng hợp việc quản lý, sử dụng, thanh toán và quyết toán kinh phí của toàn bộ cụm hoặc chuỗi nhiệm vụ với cơ quan quản lý nhiệm vụ.
Kinh phí, sản phẩm và kết quả thực hiện của từng nhiệm vụ thành phần được theo dõi, hạch toán riêng, tạo cơ sở cho việc kiểm tra, đánh giá, phân bổ, cấp và quyết toán kinh phí, đồng thời bảo đảm tính minh bạch trong quản lý nguồn lực đối với các nhiệm vụ có quy mô lớn, nhiều tổ chức cùng tham gia.
Kết luận
Việc ban hành Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN là bước cụ thể hóa cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược, đồng thời tạo cơ sở để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển công nghệ có tính chiến lược.
Thông qua việc phân tầng mức hỗ trợ ngân sách; kết hợp ngân sách nhà nước với nguồn lực ngoài ngân sách; lập dự toán theo gói công việc và mốc đánh giá; mở rộng quyền chủ động của tổ chức chủ trì; áp dụng cơ chế khoán chi gắn với sản phẩm; cùng với cơ chế dự phòng, tạm ứng và quản lý cụm, chuỗi nhiệm vụ, Thông tư hướng tới một phương thức quản lý tài chính phù hợp hơn với đặc thù của hoạt động nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược.
Qua đó, nguồn lực nhà nước được tập trung cho những nhiệm vụ có tính nền tảng, mức độ rủi ro cao hoặc có ý nghĩa đặc biệt đối với năng lực tự chủ công nghệ, quốc phòng, an ninh; đồng thời tạo động lực để doanh nghiệp, tổ chức và các chủ thể khác tham gia đầu tư, nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm công nghệ chiến lược.